Sở Lao Động- Thương Binh và Xã hội tỉnh Kiên Giang

Bảo trợ xã hội

Xem với cỡ chữAA

Nhìn lại 5 năm thực hiện công tác giảm nghèo (giai đoạn 2016-2020) trên địa bàn tỉnh Kiên Giang

(07:50 | 22/10/2020)

         Chương trình mục tiêu Giảm nghèo bền vững là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ X xác định và tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện đồng bộ, tích cực từ các cấp ủy, chính quyền, đoàn thể nhằm bảo đảm công bằng xã hội, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh. Đây là vấn đề vừa mang tính cấp bách, vừa mang tính chiến lược lâu dài, với nhiều khó khăn, thách thức của Đảng bộ, chính quyền, đoàn thể và các tầng lớp nhân dân trong công tác giảm nghèo của tỉnh.

(Toàn cảnh hội nghị đối thoại công tác giảm nghèo)

         Đầu nhiệm kỳ (năm 2016) theo tiêu chí cũ tỷ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh 1,44%, khi thực hiện chuẩn mới theo nghèo đa chiều tỷ lệ hộ nghèo của toàn tỉnh là 9,78%, trong đó hộ dân tộc thiểu số chiếm 25,11%, các huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao: Giang Thành 25,96%, U Minh Thượng 20%, An Biên 19,36%, An Minh 18,7%; có 31 xã tỷ lệ hộ nghèo từ 15% trở lên. Đặc biệt là có 2 xã của huyện Giang Thành có tỷ lệ trên 30%. Do đó, để giải quyết vấn đề giảm nghèo, không chỉ dừng lại ở việc cung cấp lương thực, thực phẩm, tạo việc làm cho người lao động mà còn phải tạo cơ hội cho người nghèo tiếp cận các dịch vụ cơ bản như giáo dục, y tế, các nguồn vốn để phát triển sản xuất và đặc biệt là tạo cho họ các cơ hội để có thể tự vươn lên thoát nghèo một cách bền vững. Bên cạnh đó, công tác giảm nghèo chịu sự chi phối của nhiều yếu tố khách quan và chủ quan, phát triển kinh tế - xã hội một số địa phương chưa đồng điều; cơ chế chính sách của Nhà nước; sự phối hợp của các cơ quan chức năng trong quá trình giảm nghèo; trình độ học vấn, nhận thức, tinh thần, thái độ, ý thức của chính bản thân người nghèo. Ngược lại, những nhận thức chưa đúng đắn, thiếu đầy đủ, thái độ thờ ơ, không tích cực hưởng ứng, tính thụ động, trông chờ, ỷ lại... chính là rào cản không nhỏ làm chậm quá trình đưa chính sách vào cuộc sống.

          Giai đoạn 2016-2020, thực hiện Nghị quyết số 76/2014/QH13 ngày 24 tháng 6 năm 2014 của Quốc hội về  tiếp tục đẩy mạnh thực hiện mục tiêu giảm nghèo bền vững đến năm 2020; Nghị quyết 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011 đến 2020; Quyết định 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015 của Thủ tướng Chính phủ ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2016 - 2020.

         Trên cơ sở tiếp thu các văn bản chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, các Bộ, Ngành Trung ương. Tỉnh ủy ban hành Chương trình hành động 06-CTr/TU ngày 8/3/2016 thực hiện Nghị quyết Đại hội X Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2015-2020; Ban chỉ đạo tỉnh đã tham mưu đề xuất UBND tỉnh ban hành Kế hoạch số 111/KH-UNND ngày 27/9/2016 về giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016-2020 và ban hành nhiều Quyết định, chương trình, kế hoạch, đề án, dự án thực hiện công tác giảm nghèo giai đoạn và hàng năm; HĐND tỉnh ban hành các chính sách đặc thù hỗ trợ cho hộ nghèo, hộ cận nghèo như: Nghị quyết số 115/2015/NQ-HĐND ngày 15/7/2015 về hỗ trợ mức đóng BHYT đối với người thuộc hộ gia đình cận nghèo (hỗ trợ 100% mức đóng BHYT); Nghị quyết số 81/2017/NQ-HĐND ngày 20/7/2017 quy định mức hỗ trợ đóng BHYT từ ngân sách địa phương đối với người thuộc hộ gia đình làm nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp có mức sống trung bình và học sinh, sinh viên giai đoạn 2017-2020; đồng thời Ban Chỉ đạo tỉnh tập chỉ đạo các sở, ban, ngành và địa phương đưa chỉ tiêu giảm nghèo vào kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương giai đoạn và hàng năm để tổ chức triển khai thực hiện đồng bộ bằng các giải pháp cụ thể như:

          Tập trung công tác tuyên truyền công tác giảm nghèo và các chính sách nhằm tạo điều kiện cho người nghèo được tiếp cận dịch vụ hỗ trợ của xã hội về y tế, giáo dục, nhà ở,  trợ giúp pháp lý, phát triển sản xuất, đa dạnh hóa sinh kế và nhân rộng mô hình giảm nghèo, tín dụng, học nghề, giải quyết việc làm... với nhiều hình thức đa dạng, nội dung phong phú đã làm thay đổi nhận thức của người dân về công tác giảm nghèo. Bên cạnh đó, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội các cấp đã tổ chức tốt việc tuyên truyền, giới thiệu những gương điển hình thoát nghèo vươn lên làm giàu, các mô hình sản xuất, kinh doanh mang lại hiệu quả cao... giúp người dân có thể vận dụng, học tập làm theo; tổ chức đối thoại chính sách giảm nghèo trực tiếp với các hộ nghèo trên địa bàn huyện, xã; hỗ trợ trang thiết bị truyền thông cho các huyện, xã và xây dựng trên 40 cụm pano tuyên tuyền.

(đ/c Trần Quốc Tuấn - Phó Giám đốc Sở Lao động - TB&XH phát biểu tại Hội nghị)

          Tỉnh đã huy động tốt nhiều nguồn lực cho công tác giảm nghèo, tập trung nguồn lực đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng thiết yếu tại các xã đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển, vùng đồng bào dân tộc, xã biên giới, ấp đặc biệt khó khăn; đồng thời ban hành nhiều chính sách hỗ trợ người nghèo, người cận nghèo (cấp BHYT, miễn giảm học phí, hỗ trợ chi phí học tập, đầu tư hệ thống thông tin cơ sở...) giúp nâng cao khả năng tiếp cận của người dân đối với các dịch vụ xã hội cơ bản theo hướng tiếp cận đa chiều. Từ đầu giai đoạn đến nay có trên 1.000.000 lượt người dân được hưởng lợi của các đối tượng ưu tiên (trong đó có 484.061 người nghèo, 305.061 người cận nghèo và 265.157 lượt người dân tộc thiểu số được thủ hưởng).

         Thực hiện Chương trình Mục tiêu Quốc gia giảm nghèo bền vững, trong giai đoạn 2015 - 2020, tỉnh đã đầu tư xây dựng các công trình giao thông nông thôn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển; các mô hình đa dạng hoá sinh kế và mô hình giảm nghèo… với nguồn vốn trên 200 tỷ đồng; ngoài ra Uỷ ban MTTQ Việt Nam các cấp và các tổ chức cá nhân vận động trên 130 tỷ đồng, hỗ trợ trên 47.000 người nghèo, cận nghèo, người dân tộc thiểu số có hoàn cảnh khó khăn trong các diệp Lễ, Tết, cứu trợ thiên tai, hoả hoạn; hỗ trợ xây dựng 2.607 nhà đại đoàn kết và nhà ở người nghèo, sửa chữa 106 căn và xây dựng 55 cầu giao thông nông thôn; hỗ trợ học nghề cho 15.092 lao động là người nghèo, người dân tộc thiểu số, người tàn tật, người bị thu hồi đất sản xuất và 2.056 lao động hộ cận nghèo. Hàng năm, giải quyết việc làm cho trên 35.000 lao động, tham mưu UBND tỉnh tổ chức các đoàn đi thăm, tặng trên 39 nghìn suất quà với tổng số tiền hơn 27,4 tỷ đồng cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo. Hệ thống chính sách giảm nghèo, an sinh xã hội ngày càng được tăng cường, hoàn thiện và hiệu quả hơn; hàng năm các sở, ban ngành tỉnh và địa phương tổ chức đã kịp thời tiếp nhận, giải quyết những vướng mắc trong việc triển khai thực hiện góp phần hỗ trợ người nghèo cải thiện một phần về điều kiện sống, được người dân đồng tình ủng hộ như chính sách hỗ trợ người nghèo về y tế, giáo dục, dạy nghề, giải quyết việc làm, chuyển giao khoa học kỹ thuật, nhà ở, vay vốn tín dụng ưu đãi,... góp phần lớn trong công tác giảm nghèo theo hướng bền vững của Đảng và Nhà nước.

         Qua đó, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh Kiên Giang những năm vừa qua đã giảm đáng kể, Theo kết quả khảo sát cuối năm 2019, toàn tỉnh có 456.773 hộ, dân số 1.723.000 người, dân tộc thiểu số chiếm 14,25%, trong đó dân tộc Khmer: 12,19%; người cao tuổi chiếm: 7,74%; Tỷ lệ hộ nghèo từ 9,78% năm 2015 giảm xuống còn 2,69% cuối năm 2019. Ước năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 1,69%. Sau 4 năm thực hiện Chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2016 - 2020; tỷ lệ hộ nghèo giảm 7,09%, bình quân giảm 1,77%/năm. 3 huyện, thành phố có tỷ lệ dưới 1%: Phú Quốc, Kiên Hải và Thành phố Rạch Giá, 3 huyện có tỷ lệ hộ nghèo giảm sâu nhưng tỷ lệ còn cao so với các huyện còn lại (Giang Thành 7, 96%, U Minh Thượng là 6,32% An Minh là 5,04%). Từ kết quả trên đã góp phần hoàn thành tiêu chí xây dựng xã nông thôn mới và huyện nông thôn mới theo quy định của trung ương.

Bên cạnh những kết quả đã đạt được, công tác giảm nghèo của tỉnh vẫn chưa thực sự bền vững. Năm 2019, tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh nhưng tỷ lệ một số xã còn hộ nghèo ở mức cao cụ thể: tại các xã đặc biệt khó khăn vùng bãi ngang ven biển 6,11%, trong đó hộ dân tộc thiểu số chiếm 12,04%; tại các xã đặc biệt khó khăn vùng biên giới chiếm 7,11%, trong đó hộ dân tộc thiểu số là 10,10%; vẫn còn tình trạng hộ tái nghèo, tái cận nghèo. Hộ nghèo, hộ cận nghèo có đối tượng bảo trợ xã hội còn nhiều, trong đó tỷ lệ hộ nghèo thuộc chính sách bảo trợ xã hội khó có khả năng thoát nghèo chiếm 5,08% tổng số hộ nghèo.

         Với kết quả giảm nghèo đạt được nêu trên, Tỉnh đã thực hiện về đích trước 01 năm chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Kiên Giang lần thứ X, nhiệm kỳ 2015 – 2020 (Cuối năm 2019 tỷ lệ hộ nghèo còn 2,69%, Nghị quyết giao dưới 3%), dự kiến cuối năm 2020 còn 1,69%. (Ngô Thị Thà, TP. BTXH, Trẻ em-BĐG và TNXH Sở Lao động-TB&XH tỉnh Kiên Giang